Theo dõi Phong Thu:

Ôn Cố..

Tác giả:  Nguyễn Thị Bé Bảy


1.Trong khi cuộc xung đột giữa Hoa Kỳ và Iran đang diễn ra, Đức Giáo Hoàng Leo XIV đã phát biểu ý kiến của Ngài, ngụ ý không hài lòng về chiến tranh, nhưng Ngài lại không đá động đến "cuộc chiến tranh khủng bố và đàn áp" của chính phủ thần quyền Iran đối với chính người dân của họ.

2.Vào ngày Thứ Hai 27/4/2026, Quốc Vương Charles Đệ Tam và Hoàng Hậu Camilla của Vương Quốc Anh viếng thăm Hoa Kỳ trong bối cảnh nước Mỹ đón mừng 250 Năm Độc Lập trong khi đang xung đột với Iran.

3. Như thế giới từng chứng kiến, Iran từ trước đến nay đã ủy nhiệm cho các "tay sai" Hamas, Hezbollah và Houthi tấn công Do Thái bằng những hành động khủng bố, gây bất ổn liên miên trong Vùng Vịnh Ba Tư. 

Bối cảnh tại Trung Đông hiện nay tuy không giống như Liên Bang Xô Viết trước kia với Chiến Tranh Lạnh đe dọa thế giới, nhưng thực chất của mối đe dọa từ chủ nghĩa "Hồi Giáo Cực Đoan&Quá Khích&Khủng Bố" của Iran, với chủ trương tiêu diệt Hoa Kỳ và Do Thái (Death to America! Death to Israel!) một cách công khai, đã là một sự thật không thể phủ nhận.
Mối đe dọa này nếu được trang bị thêm bằng hỏa tiễn đạn đạo và bom nguyên tử, thì không những chỉ là một mối đe dọa suông, mà chính là một đại họa cho Hoa Kỳ & Do Thái nói riêng, và cho thế giới nói chung! 
Chúng ta cũng không nên quên sự cấu kết giữa Iran, Nga và Trung Cộng đã thành hình một "Axis of Upheaval" tuy không thể ví như "Evil Empire" mà TT Reagan đã không ngần ngại đặt tên cho Liên Bang Xô Viết và Khối Cộng Sản Đông Âu, nhưng mục đích của chúng không khác nhau.

Trong bối cảnh hiện tại qua hai sự kiện 1 và 2 trên đây, khiến cho người viết bài này liên tưởng đến vai trò của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo Đệ Nhị (II), Bà Thủ Tướng Anh Margaret Thatcher và Tổng Thống Hoa Kỳ Ronald Reagan đối với sự sụp đổ của Khối Cộng Sản Đông Âu và Liên Bang Xô Viết.
Đã có một quyển sách nói về biến cố này.
Tác phẩm có tựa đề "The President, The Pope, and The Prime Minister: Three Who Changed the World - Tổng Thống, Đức Giáo Hoàng và Thủ Tướng: Ba Nhân Vật Đã Thay Đổi Thế Giới của tác giả John O’Sullivan, xuất bản vào tháng 10 năm 2006. 
(John O'Sullivan là một nhà báo và bình luận viên bảo thủ người Anh, từng là biên tập viên của tờ báo National Review và The Times (London).
Ông từng đảm nhiệm vai trò Cố Vấn Đặc Biệt kiêm soạn thảo diễn văn cho Thủ Tướng Margaret Thatcher từ năm 1987 đến 1988. Ông cũng là nhân vật chủ chốt trong việc soạn thảo cương lĩnh tranh cử năm 1987 của Đảng Bảo Thủ Anh, và sau đó đã hỗ trợ bà Thatcher hoàn tất cuốn hồi ký của bà.)

  • Nội dung tác phẩm được Amazon giới thiệu như sau:

Tổng Thống, Đức Giáo Hoàng và Thủ Tướng, là một thiên truyện đồ sộ và đầy kịch tính, kể lại phương cách mà ba nhân vật vĩ đại ấy đã thay đổi dòng lịch sử. Cả ba đều lãnh đạo bằng lòng dũng cảm, nhưng đồng thời cũng bằng một tinh thần lạc quan mãnh liệt. Vị Giáo Hoàng đã giúp những người dân Ba Lan và Đông Âu bình thường xua tan nỗi sợ hãi trước chủ nghĩa Cộng Sản Xô Viết, thuyết phục họ rằng sự giải phóng là điều hoàn toàn khả thi. Vị Thủ Tướng đã vực dậy nền kinh tế đang trên đà suy thoái của đất nước mình bằng cách khơi dậy những "phẩm hạnh đầy sinh lực" vốn có nơi người dân Anh. Vị Tổng Thống đã tái thiết sức mạnh quân sự, tinh thần dân tộc, cũng như vị thế tối thượng của nước Mỹ với tư cách là người dẫn dắt thế giới tự do. Cùng nhau, họ đã lật đổ một đế chế ác quỷ (Evil Empire) và thay đổi thế giới theo chiều hướng tốt đẹp hơn. Sẽ chẳng có ai có thể kể lại câu chuyện đan xen giữa ba nhân vật này xuất sắc hơn John O'Sullivan - là cựu biên tập viên của tờ *National Review* và *The Times* (London )- là người từng quen biết cả 3 nhân vật và đã thực hiện những cuộc phỏng vấn độc quyền, hé lộ những góc nhìn mới mẻ và đầy ấn tượng về những "người khổng lồ" của thế kỷ XX.

Nói đến vai trò của 3 nhân vật kiệt xuất này trong tác phẩm của mình, tác giả John O'Sullivan đã trả lời trong một cuộc phỏng vấn của Edward Pentin trên tờ báo Register vào năm 2011. 
Edward Pentin là cộng tác viên lão làng của tờ báo Register và là chuyên gia phân tích về Vatican của EWTN News. Ông phụ trách tin tức về Đức Giáo Hoàng và Vatican tại Đài Phát Thanh Vatican, sau đó đảm nhiệm vai trò phóng viên thường trú tại Rome cho tờ báo National Catholic Register  thuộc EWTN.

  • Ông Pentin giới thiệu cuộc phỏng vấn như sau:

Ronald Reagan, Margaret Thatcher và Đức Giáo Hoàng John Paul II đã đóng vai trò quan trọng như thế nào trong việc chấm dứt chủ nghĩa cộng sản do Liên Xô lãnh đạo, và những bài học nào được rút ra từ họ vẫn còn giá trị đối với thế giới ngày nay trong việc đối phó với chủ nghĩa thế tục và chủ nghĩa Hồi Giáo Khủng Bố? Để có lời giải đáp, chúng tôi đã tìm đến John O’Sullivan—tác giả cuốn sách *The President, The Pope, and The Prime Minister: Three Who Changed the World* (Tổng Thống, Giáo Hoàng và Thủ Tướng: Ba Nhân Vật Đã Thay Đổi Thế Giới).

  • Sau đây là nội dung cuộc phỏng vấn của ông Pentin với tác giả O'Sullivan:

Hỏi: Trong cuốn sách của mình, ông có đề cập rằng Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Ronald Reagan và Margaret Thatcher có những điểm chung thú vị: Họ đã thay đổi dòng lịch sử, thế nhưng lại chỉ là ba "nhà quản lý cấp trung" mà chẳng ai từng hình dung nổi rằng họ có thể vươn tới đỉnh cao quyền lực. Vậy quá trình nghiên cứu của ông đã hé lộ ở mức độ nào về vai trò của Đấng Tạo Hóa (Providence) trong những thành tựu mà họ đạt được?
Đáp: Trong cuốn sách này, tôi đã cố gắng lý giải những khó khăn to lớn khi bàn về vai trò của Sự Quan Phòng trong dòng lịch sử; bởi lẽ, dĩ nhiên, Sự Quan Phòng vốn vận hành thông qua các tác nhân tự nhiên và con người. Vì vậy, xét trên một phương diện nào đó, có lẽ cách tiếp cận tối ưu nhất là mô tả lại những sự kiện đã diễn ra một cách chân thực nhất theo những gì chúng ta biết, rồi để độc giả tự rút ra những suy luận từ những sự trùng hợp phi thường ấy, với những điều tương tự. 
Trên thực tế, tại một đoạn trong sách, tôi đã trích dẫn lời của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II: rằng trong sự vận hành của Sự Quan Phòng, tuyệt nhiên không hề tồn tại những sự trùng hợp ngẫu nhiên. Điều khiến tôi cảm thấy vô cùng thú vị và đầy lôi cuốn chính là việc ba nhân vật này lại xuất hiện đúng vào thời điểm mà nền văn minh Phương Tây, Cơ Đốc Giáo và nhiều giá trị khác đang phải đối mặt với những hiểm nguy khôn lường. Cả ba người họ đều đã phải trải qua một quá trình đấu tranh đầy gian nan để vươn tới đỉnh cao quyền lực; họ đã phải nỗ lực không ngừng để tạo nên những dấu ấn và tầm ảnh hưởng; thế nhưng, gần như ngay sau khi vừa nhậm chức tại những vị trí tối cao, cả ba người họ đều đã trở thành nạn nhân của những âm mưu ám sát. Những âm mưu ám sát ấy đã suýt chút nữa thành công — đối với Đức Giáo Hoàng, viên đạn chỉ sượt qua trái tim Ngài trong gang tấc; điều tương tự cũng xảy ra với Tổng Thống Reagan, và có lẽ cả với bà Thatcher nữa — nếu bà nán lại trong phòng vệ sinh thêm chừng năm hay sáu phút nữa thôi, chắc chắn bà đã bị sát hại.

H: Những âm mưu ám sát bất thành đó đã tiếp thêm động lực cho họ bao nhiêu để tiếp tục theo đuổi các mục tiêu của mình?
Đ: Trong trường hợp của cả Tổng Thống Reagan lẫn Đức Giáo Hoàng, những sự kiện này đã củng cố niềm xác tín của họ rằng họ được gửi đến thế gian này để thực hiện một sứ mệnh cao cả. Chúng ta biết điều đó bởi chính họ đã nói như vậy. Tuy nhiên, điều này lại không tạo ra tác động tương tự đối với Bà Thatcher, vì một lý do khá thú vị. Tôi đã nói với bà rằng cả Đức Giáo Hoàng và Tổng Thống Ronald Reagan đều cảm thấy việc các âm mưu ám sát thất bại đã thuyết phục họ rằng họ được cứu sống để phục vụ cho một mục đích vĩ đại nào đó. "Bà có nghĩ rằng mình được cứu sống để thực hiện một mục đích cao cả không?" tôi hỏi. Và bà đáp: "Không." Khi bà nói câu này—điều mà tôi vốn đã lường trước—tôi nghĩ mình đã hiểu rõ lý do, nên tôi liền hỏi bà: "Thật thú vị. Tại sao vậy?" Bà trả lời: "Chà, có tới năm người đã thiệt mạng trong đêm hôm đó. Tại sao riêng tôi lại được ưu ái cứu sống chứ? Họ đều là bạn bè của tôi mà," và bà cứ thế giãi bày. Thực lòng mà nói, tôi cho rằng đó là một phản ứng rất đỗi con người; bà nói tiếp rằng sẽ thật thiếu khiêm nhường và tự phụ nếu bà nghĩ rằng Chúa đã đích thân can thiệp chỉ để ban ân huệ riêng cho bà. Tuy nhiên, dĩ nhiên đó lại là một cách suy nghĩ chưa thật sự thấu đáo—biết đâu bà được cứu sống chính là để chuẩn bị cho một thử thách to lớn nào đó thì sao.

H:Đó rất giống với cách tiếp cận của Hội Thánh Giám Lý.
Đ:Vâng, chính xác. Thực tế, tôi đã đi đến kết luận đó. Vì vậy, như tôi đã nói, nó có tác động trong hai trường hợp kia, nhưng không phải trong trường hợp của bà ấy. Mặt khác, cả ba người đều đã bắt đầu cuộc hành trình định mệnh của mình, có thể nói như vậy, và vì thế nó đã làm rõ hơn ý thức về định mệnh đó, nhưng thực sự không thay đổi mọi thứ. Nó chỉ thúc đẩy họ, chứ không thay đổi bản chất vấn đề.

H:Ông tin rằng tất cả họ đều có một định mệnh rõ ràng đã được vạch ra.
Đ:Vâng, ông biết đấy, chúng ta nói rằng Chúa có kế hoạch cho mỗi người, nhưng chúng ta cũng biết rằng chúng ta hoàn toàn có khả năng làm hỏng kế hoạch của Chúa, ví dụ như bằng cách xuống địa ngục!

H:Một số nhà phê bình cuốn sách của ông lập luận rằng tình hình kinh tế của Liên Xô vốn đã ở vào vị thế mà sự sụp đổ là điều tất yếu, và rằng vai trò của ba nhà lãnh đạo này đối với sự kiện đó là không đáng kể. Ông có đồng tình với bất kỳ phần nào của lập luận này không?
Đ: Không, và lịch sử đứng về phía tôi trong vấn đề này. Nền kinh tế của Liên Xô thực sự đã luôn chực chờ sụp đổ ngay từ năm 1917. Chưa từng có giai đoạn kinh tế nào thực sự thành công, và nguyên nhân là bởi chính bản thân hệ thống đó đã không đủ năng lực để tạo ra hàng hóa. Nó bất lực trong việc tạo động lực cho người dân, bất lực trong việc mang lại cho họ một mức sống tử tế, cũng như khuyến khích phát huy những phẩm chất nhân văn của họ, và vân vân. Vì thế, tôi cho rằng sự sụp đổ của nó là điều đã được định từ trước.

Vậy thì, làm thế nào mà nó vẫn tồn tại được, và dường như—trong một số trường hợp—thậm chí còn phát triển thịnh vượng? Chà, phương Tây đã hết lần này đến lần khác viện trợ cho họ; họ vẫn tiếp tục làm như vậy ngay cả trong thập niên 70. Vì thế, mặc dù Liên Xô luôn tiềm ẩn nguy cơ sụp đổ bất cứ lúc nào, nhưng nó cần một tác động từ bên ngoài—và tác động đó đã được chính ba nhà lãnh đạo này tạo ra. Bằng những phương thức khác nhau, họ đã làm suy yếu Liên Xô; và tất nhiên, trong trường hợp của Reagan, ông đã công khai đặt mục tiêu đẩy họ đến bờ vực phá sản.

Chẳng hạn, ông luôn theo dõi sát sao giá vàng, bởi ông biết rằng đó là một nguồn lực hữu ích đối với họ. Chính sách tăng cường sức mạnh quân sự của ông được thiết kế nhằm gửi tới họ một thông điệp: “Nếu các ông cứ làm theo ý mình, các ông sẽ không bao giờ có thể chạy đua kịp với những gì chúng tôi có thể làm.” Và cuối cùng, chính họ cũng đã tự đi đến kết luận đó.

Ngay sau khi trở thành một nhân vật chủ chốt, Gorbachev đã than phiền trước Bộ Chính Trị rằng giá trị xuất cảng hàng năm của Singapore thậm chí còn vượt xa tổng giá trị xuất cảng của toàn bộ Liên Xô cộng lại. Ai cũng nhận thấy rằng hệ thống này đang bị đẩy đến bờ vực sụp đổ—bởi Reagan thông qua các áp lực kinh tế, bởi Giáo Hoàng thông qua sức mạnh tinh thần, và bởi Thatcher theo một phương thức vô cùng đặc biệt: Bà đã chứng minh được khả năng tự phục hồi mạnh mẽ của một xã hội tự do và một nền kinh tế tự do. Bà tiếp quản một nền kinh tế đang rơi vào tình cảnh vô cùng bi đát; và theo một nghĩa nào đó, bằng cách mang lại cho nền kinh tế ấy những lợi ích của sự tự do—cùng với, theo tôi, một chính sách tiền tệ hợp lý—bà đã chứng kiến ​​nền kinh tế Anh hồi sinh mạnh mẽ, thoát khỏi tình trạng "thập tử nhất sinh". Vào thời điểm bà rời nhiệm sở, nền kinh tế Anh đã vươn lên vị trí thứ tư trên thế giới.
Như vậy, chính tất cả những yếu tố này đã làm suy yếu hệ thống đó. Tóm lại: Đó là một hệ thống vốn đã chứa đựng vô vàn khiếm khuyết nội tại; tuy nhiên, để có thể khai thác triệt để những điểm yếu ấy nhằm đánh sập hệ thống, và quan trọng hơn là đánh sập nó một cách hòa bình thay vì bằng bạo lực, cần phải có sự tác động của những áp lực mạnh mẽ từ bên ngoài.

H: Nhưng một số người lập luận rằng cuộc chạy đua vũ trang là một cách rất nguy hiểm để lật đổ chủ nghĩa cộng sản Liên Xô. Quan điểm của ông về vấn đề đó là gì?
Đ: Trước hết, cuộc chạy đua vũ trang do phía bên kia khởi xướng. Họ đã khai triển các máy bay SS-20 khắp châu Âu, và nếu họ không muốn một cuộc chạy đua vũ trang, họ đã có thể tránh được nó.

Reagan rất thú vị ở khía cạnh này, và đây là điều mà Đức Giáo Hoàng đã nhận ra về ông. Bất cứ khi nào ông thấy mình sắp có xung đột với người khác hoặc thế lực nào đó, ông sẽ đến gặp họ và nói: “Hãy nhìn xem, chúng ta nên là bạn bè. Không cần thiết phải chiến đấu. Chúng ta không muốn, nhưng nếu các ông cứ khăng khăng muốn chiến đấu, chúng ta sẽ chiến đấu, và chúng tôi sẽ thắng.” Reagan đã viết một bức thư tay cho Leonid Brezhnev lãnh đạo Liên Xô 1964-1982, không lâu sau khi ông nhậm chức Tổng Thống, trong đó ông nói “không có lý do gì để chúng ta tranh cãi.”Ngụ ý là người Nga và người Mỹ có thể tôn trọng lẫn nhau, có mối quan hệ tốt đẹp về mặt cá nhân, vậy thì hãy cùng nhau làm việc vì lợi ích của nhân dân hai nước. 
Nhưng Liên Xô đã bác bỏ điều này ngay lập tức. Reagan đã phải tiến hành một cuộc đấu tranh khá quyết liệt với Bộ Ngoại Giao và những người khác, như Al Haig, để thông qua được ý tưởng này, nhưng ông đã gửi nó đi, và ông nhận được một câu trả lời qua loa mang tính tuyên truyền ý thức hệ. Vì vậy, Reagan nghĩ vào thời điểm đó: Chà, là họ muốn gây chiến. Nhân tiện, ông ấy đã làm chính xác điều tương tự với người Cuba, trước khi giúp thành lập lực lượng Contra. Ông đã cử một đặc phái viên đến nói với người Cuba rằng, miễn là họ trao các quyền tự do dân chủ cho người dân Nicaragua, ông sẽ không cố gắng lật đổ chế độ. Họ đã khinh thường bác bỏ điều đó bởi vì, vào thời điểm đó, họ nghĩ rằng họ đang ở phe thắng cuộc.

Vì thế, Reagan tin rằng việc ông thành lập đội quân Contra nhằm gây sức ép lên phía bên kia là hoàn toàn chính đáng. Nhân tiện, một chi tiết đáng chú ý được hé lộ qua các cuộc thảo luận nội bộ tại Bộ Ngoại Giao là ông luôn hết sức chú trọng việc tránh gây đổ máu cũng như hạn chế tối đa những tổn thất cho thường dân.

H: Nữ Nam Tước Thatcher là người duy nhất trong số ba vị lãnh đạo ấy hiện vẫn còn sống. Khi nhìn lại quãng thời gian đó, bà nhìn nhận toàn bộ sự việc này như thế nào? Liệu bà có tự coi mình là một phần của bộ ba quyền lực ấy hay không?
Đ: Chà, bà ấy rất tâm đắc với cuốn sách của tôi, và thậm chí đã đích thân đến tham dự buổi giới thiệu sách. Trên thực tế, đó là buổi ra mắt sách duy nhất mà những người có mặt tại đó từng chứng kiến, nơi mà nhân vật chính trong sách cũng tham gia ký tặng độc giả cùng với chính tác giả! Vì vậy, câu trả lời là: Có, bà ấy thực sự coi mình là một phần của bộ ba đó.

H:Tôi hỏi điều này là bởi vài năm trước, khi đi tham quan lăng mộ của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, bà đã nhiệt thành phát biểu rằng nếu không nhờ có vị Giáo Hoàng này, chủ nghĩa cộng sản Xô Viết hẳn vẫn còn tồn tại đến ngày nay.
Đ: Chà, như chính ông đã nhận định, mặc dù hiện tại bà là tín hữu Anh Giáo, nhưng trong thái độ và cách hành xử, bà vẫn mang đậm phong cách của người theo Hội Thánh Giám Lý. Những người theo Hội Thánh Giám Lý thường rất kỵ thói tự cao tự đại hay những biểu hiện tương tự. Bà thừa nhận rằng mình là một vị Thủ Tướng vĩ đại—rằng công chúng đã nhìn nhận bà như một Thủ Tướng vĩ đại—và bà cảm thấy tự hào về điều đó theo một cách thức hoàn toàn chính đáng và chấp nhận được.

H: Hôm nay, chúng ta có thể học hỏi được điều gì từ cả ba nhân vật này?
Đ: Tôi xem họ là những sứ giả của niềm hy vọng, theo những cách thức riêng biệt của mỗi người. Michael Foot , lãnh đạo Đảng Lao Động Anh dưới thời chính phủ Thatcher, từng nhận định rằng một trong những điểm sáng nhất ở Margaret Thatcher chính là tinh thần lạc quan mạnh mẽ của bà. Và quả thực, xét trên một khía cạnh nào đó, bà là một người lạc quan. Tuy nhiên, tôi lại thiên về việc sử dụng từ "hy vọng" hơn; bởi lẽ, sự lạc quan thường chỉ là một thiên hướng tính cách—và không ít lần, đó còn là một thiên hướng ngây ngô, thiếu thực tế. Ngược lại, bà Thatcher là người thấu hiểu rằng nỗ lực chính là một yếu tố không thể thiếu trong niềm hy vọng. Bạn không chỉ đơn thuần ngồi đó và hy vọng rằng một điều gì đó sẽ tự nhiên xảy đến; thay vào đó, bạn phải bắt tay vào thực hiện các dự án với một tinh thần tràn đầy hy vọng.

Dĩ nhiên, bạn cần phải trông cậy vào ân điển của Chúa; nhưng dù sao đi nữa, bạn vẫn buộc phải hành động—và tôi tin rằng cả ba nhân vật này đều mang trong mình suy nghĩ ấy. Bạn hoàn toàn có thể gặt hái được những thành tựu vĩ đại nhờ vào sự trợ giúp của Chúa, nhưng đồng thời, chính bạn cũng phải dốc hết tâm sức và nỗ lực hết mình.

H:Theo ông, liệu đặc điểm này có đang bị thiếu vắng ở các nhà lãnh đạo ngày nay hay không?
Đ:Tình thế mà các nhà lãnh đạo phải đối mặt ngày nay đã có sự khác biệt; tuy nhiên, tôi thực sự cho rằng trong giai đoạn kéo dài cho đến khi cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 nổ ra, bản thân các nhà lãnh đạo cũng không thực sự hiểu rõ lý do vì sao họ lại gặt hái được thành công. Đó là một giai đoạn bùng nổ mạnh mẽ về sự sáng tạo và thịnh vượng, được khởi xướng ngay sau khi Chiến Tranh Lạnh kết thúc.

Các chướng ngại vật đã biến mất; những tư tưởng kinh tế ngớ ngẩn mang nặng tính Xã Hội Chủ Nghĩa—vốn từng kìm hãm sự phát triển của con người—đã bị loại bỏ. Cùng lúc đó, thế giới đón nhận thêm khoảng 2 tỷ nhân lực mới tham gia vào thị trường lao động. Hàng loạt điều tốt đẹp đã nảy sinh, tạo nên một đợt bùng nổ thịnh vượng vô cùng mạnh mẽ; và tôi nghĩ rằng, nếu là một nhà lãnh đạo trong giai đoạn ấy, thì e rằng bạn sẽ chẳng còn mang tính người nữa nếu không tự nhận lấy một phần công lao cho những thành quả đó.

Tuy nhiên, tôi cho rằng ông Tony Blair gần như đã thừa nhận rằng chính ông cũng không thực sự hiểu rõ tại sao mọi việc lại diễn ra suôn sẻ đến thế trong nhiệm kỳ của mình. Theo tôi, nguyên nhân nằm ở những gì mà các ông Reagan và bà Thatcher đã thực hiện—họ chính là những người đã đặt nền móng cho sự phát triển đó, và cả Đức Giáo Hoàng nữa. Khi cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra—vốn là hệ quả của những chính sách thiếu khôn ngoan nói chung—các nhà lãnh đạo đương thời bỗng bừng tỉnh và nhận ra một sự thật phũ phàng: họ thực sự chẳng hề biết rõ mình đang làm gì. Họ chỉ đơn thuần đứng bên lề quan sát trong khi một cuộc cách mạng mang lại thành công to lớn đang diễn ra ngay trước mắt. 

H: Ai là những nhân vật tương đương với Reagan và Thatcher trong thời đại ngày nay?
Đ: Chà, thực ra chẳng có ai thực sự tương đương cả, và sẽ không bao giờ có, bởi lẽ mỗi người đều khác biệt và họ phải đối mặt với những thách thức khác nhau.
Trong số các nhà lãnh đạo chính trị mà tôi đánh giá cao: ở thế giới ngoài Cơ Đốc Giáo, có ông Lý Quang Diệu - Thủ Tướng Singapore giai đoạn 1965-1990 - người thường bị chỉ trích là độc đoán, nhưng lại là người đạt được những thành tựu to lớn trong công cuộc kiến ​​tạo nên đất nước Singapore. Tuy có những điểm tôi không đồng tình với ông, nhưng rõ ràng ông là một vĩ nhân, và tầm ảnh hưởng của ông đối với thế giới mang lại rất nhiều lợi ích, ngay cả khi bạn có thể không tán thành một số quan điểm hay thái độ của ông. Còn trong nền chính trị phương Tây, tôi xin nêu tên: tại Úc, có ông Tony Abbott, lãnh đạo Đảng Tự Do Úc; ông là một nhân vật xuất chúng và tôi vô cùng ngưỡng mộ ông. Ông đang nắm giữ cơ hội rất lớn để trở thành Thủ Tướng. Ngoài ra, tôi cũng đánh giá rất cao một số nhân vật người Hungary, chẳng hạn như ông Viktor Orban -Thủ Tướng đương nhiệm.

H: Còn tại Hoa Kỳ thì sao?
Đ: Ở đó cũng có những con người ưu tú, nhưng một điều mà chúng ta cần luôn ghi nhớ là: Chúng ta sẽ chẳng thể biết được họ thực sự tài giỏi đến mức nào, cho đến khi họ nắm giữ những vị trí quyền lực tối cao.

Ngay từ ban đầu, tôi đã từng chỉ trích bà Thatcher khá gay gắt; ngược lại, tôi từng nghĩ rằng Reagan có tiềm năng trở thành một vĩ nhân, nhưng liệu ông ấy có thể trở nên vĩ đại đến mức như những gì đã diễn ra sau này hay không? Không, tôi đã không nghĩ như vậy. Đức Giáo Hoàng thì lại gây ấn tượng mạnh mẽ ngay từ những ngày đầu tiên; thế nhưng, liệu vào giai đoạn 1978–1979, tôi có nghĩ rằng Ngài sẽ tạo nên tầm ảnh hưởng to lớn đối với thế giới như những gì đã thực sự diễn ra hay không? Không, tôi đã không nghĩ thế. Tôi có ấn tượng rất sâu sắc trước những sự kiện đã diễn ra tại Ba Lan, nhưng tôi lại cho rằng những sự kiện đó sẽ chỉ dừng lại trong phạm vi của đất nước Ba Lan mà thôi. Cho đến khi con người có cơ hội được phát huy trọn vẹn tài năng của mình, bạn sẽ thực sự chẳng thể biết được họ sẽ trở thành người như thế nào.

H: Các nhà sử học nhận định rằng chuyến thăm Ba Lan của Đức Giáo Hoàng vào năm 1979 đóng vai trò then chốt trong việc chấm dứt Chiến Tranh Lạnh, khơi mào cho một chuỗi các sự kiện dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản tại Nga và Khối Đông Âu. Ông có đồng tình với quan điểm này không?
Đ: Về điều đó thì hoàn toàn không có gì phải nghi ngờ cả: Chuyến đi ấy đã làm thay đổi cả thế giới. Đó chính là sự khởi đầu cho hồi kết của thế giới cộng sản. Bản thân họ—phía bên kia—đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của sự kiện này; và để nói một cách công bằng, ngay từ rất sớm, họ đã cảm nhận được rằng Đức Giáo Hoàng chính là một mối đe dọa đối với họ.

H: Ông có thể chia sẻ thêm một chút về cách ông mô tả mối quan hệ giữa Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và Tổng Thống Reagan trong cuốn sách này được không?
Đ: TT Reagan là nhân vật then chốt trong cuốn sách  - không phải là then chốt trong dòng lịch sử nói chung, mà là then chốt trong chính cuốn sách này - bởi lẽ ông chính là người đã kết nối Đức Giáo Hoàng và bà Thatcher lại với nhau. Đức Giáo Hoàng và bà Thatcher đã gặp gỡ nhau nhiều lần. Bà dành sự kính trọng cho Đức Giáo Hoàng, và dường như ông cũng dành sự kính trọng cho bà; tuy nhiên, giữa hai người lại không tồn tại một mối quan hệ thực sự thân thiết.
Ngược lại, giữa Reagan và Thatcher, cũng như giữa Reagan và Đức Giáo Hoàng, lại có một mối quan hệ vô cùng gắn bó. Chính vì thế, ông trở thành nhân vật trung tâm giúp gắn kết hai bên này lại với nhau. Tôi cho rằng tất cả những điều này đều bắt nguồn từ cuộc gặp gỡ tại Vatican vào năm 1982, cuộc gặp mà trong đó Reagan đã ngủ gật ngay giữa một sự kiện công khai, nhưng sau đó lại cùng Đức Giáo Hoàng gặp riêng để đàm đạo trong suốt một tiếng đồng hồ. Cho đến tận hôm nay, chúng ta vẫn chưa biết được toàn bộ sự thật về những gì đã diễn ra trong các cuộc gặp riêng tư đó. Ông ấy đã có nhiều cuộc gặp với Đức Giáo Hoàng—tôi nhớ không nhầm thì là bảy lần—và nội dung các cuộc gặp này luôn được giữ kín tuyệt đối; tuy nhiên, trong tương lai, chắc chắn chúng ta sẽ biết thêm nhiều chi tiết hơn.

Sau khi kết thúc cuộc gặp gỡ đầu tiên với TT Reagan, Đức Giáo Hoàng bước ra ngoài và gặp hai vị Hồng Y, là Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh và Hồng Y Silvestrini, rồi nói với họ rằng Reagan là một người đàn ông tốt, rằng ông ấy thực sự tin tưởng vào việc giải trừ quân bị, thực sự phản đối vũ khí hạt nhân, và nhiều điều tương tự như thế. Ngày nay, tất cả chúng ta đều đã biết rõ những điều đó; thế nhưng vào thời điểm bấy giờ, hình ảnh của Reagan trong mắt công chúng lại là một gã cao bồi "hiếu chiến", luôn sẵn sàng nổ súng bất cứ lúc nào. Đây chính là khoảnh khắc mà Đức Giáo Hoàng—theo một khía cạnh nào đó—đã đi đến kết luận rằng Reagan là một con người có những ý tưởng đạo đức trong chính sách đối ngoại, hoàn toàn phù hợp với các chuẩn mực đạo đức tốt đẹp của Kitô Giáo. Có thể ông sẽ mắc sai lầm, và có thể ông sẽ không phải lúc nào cũng hành động theo cách mà chúng ta mong đợi; thế nhưng, mục tiêu nhằm thúc đẩy hành động của ông thì không bao giờ thay đổi.

Nhờ đó, Đức Giáo Hoàng cảm thấy mình hoàn toàn có thể—với một lương tâm thanh thản—không tham gia vào chiến dịch phản đối chương trình "Chiến Tranh Giữa Các Vì Sao" (Star Wars), cũng như không đưa ra một cái nhìn quá khắt khe đối với phong trào Sandinista như lẽ ra ông đã có thể làm. Chính vì vậy, chính sách của Vatican trong những năm tháng đó trở nên thân thiện hơn nhiều đối với chính sách của Hoa Kỳ so với những gì mà dư luận mong đợi; và nguồn gốc của sự thay đổi này chính là mối quan hệ đặc biệt giữa Tổng Thống Reagan và Đức Giáo Hoàng.
Edward Pentin viết bài từ Rome.                                     

                                             *********                                               
Nói thêm về vai trò của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo Đệ Nhị trong việc kết thúc chủ nghĩa Cộng Sản
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tận dụng vị thế của Ngài để thách thức chủ nghĩa Cộng Sản thông qua uy thế đạo đức và việc vận động cho nhân quyền. 

  • Sau đây là những khía cạnh then chốt trong tầm ảnh hưởng của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đối với Chiến Tranh Lạnh:

-Chuyến hành hương tại Ba Lan năm 1979: Chuyến thăm Ba Lan vào năm 1979 của Ngài đã khơi dậy một sự thức tỉnh về mặt tinh thần lẫn chính trị, trở thành chất xúc tác cho phong trào Công Đoàn Đoàn Kết (Solidarity) và đẩy nhanh sự sụp đổ của chủ nghĩa Cộng Sản.
Chuyến viếng thăm ấy kéo dài chín ngày, đã gây ra một "trận động đất tâm lý", khích lệ hàng triệu người vượt qua nỗi sợ hãi và đứng lên chống lại sự áp bức.
-"Đừng sợ hãi": Thông điệp mang tính biểu tượng này đã khich lệ sự phản kháng xã hội chống lại các chế độ toàn trị, giúp chuyển giao quyền lực từ nhà nước sang tay người dân.
-Sự ủng hộ dành cho phong trào Đoàn Kết: Đức Giáo Hoàng đã cung cấp hậu thuẫn to lớn về mặt tinh thần và đạo đức cho Công Đoàn Đoàn Kết tại Ba Lan, một phong trào được chứng minh là thách thức mang tính quyết định đối với sự cai trị của Đảng Cộng Sản.
- "Liên Minh Thánh" với Tổng Thống Reagan: Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và Tổng Thống Hoa Kỳ Ronald Reagan đã chia sẻ một mối quan hệ đối tác chiến lược và mật thiết, tập trung vào việc tháo dỡ sự kiểm soát của chủ nghĩa cộng sản tại Đông Âu.
- Sự phản đối chủ nghĩa Cộng Sản trên phương diện đạo đức: Ngài coi chủ nghĩa cộng sản là một "tệ nạn đạo đức" và đã thách thức sự độc quyền của nó trong đời sống công cộng, thông qua việc thúc đẩy quyền tự do tôn giáo.

- Di sản: Nhiều sử gia và nhân vật chính trị, trong đó có Mikhail Gorbachev, đã ghi nhận vai trò then chốt của Ngài trong sự sụp đổ chủ nghĩa cộng sản tại Đông Âu một cách hòa bình, tiến trình này đã kết thúc bằng sự tan rã của Liên Bang Sô Viết vào năm 1991.

Nhưng di sản quan trọng hơn hết, chính là lời tuyên bố Ngài sẵn sàng rời Vatican trở về Ba Lan để bảo vệ quê hương, nếu Liên Xô tấn công Ba Lan.
Lời này bao hàm ý nghĩa, trước khi là một Giáo Hoàng, Ngài còn là một Công Dân Ba Lan! 
AMEN!

By Nguyễn Thị Bé Bảy

Ngày 1/5/2026



Cộng đồng bình luận