By Thái CôngTụng
Abstracts
1. Following introduction about environment and sustainable development in section 1, section 2 mentions that environment is an open system which continuously exchanges feedback with other ubsystems. Listed here are:
- environment and overpopulation which puts a heavy stress on soils and water resources.
- environment and health which is strongly affected by different forms of pollution: water pollution, soil pollution with contaminants, air pollution
- Environment and faith. Nature and a green environment can reduce stress, improve mood, mental and emotional well-being, reduce anger and aggressiveness and increase overall happiness, in other words, keep us in the zen mood. Environment and tourism . A clean and green environment is conducive to tourism .
2. Section 3 lists a number of significant environmental problems today in Viet Nam: deforestation, destruction of biodiversity, soil degradation, salt intrusion.
3. Section 4 is about environmental protection: protection of forest
resources, water resources, soil resources, marine resources.
4. Section 5 lists 4 types of sustainability: human sustainability, social
sustainability, economic sustainability, environment sustainability
.These four types interact together: resources use should be for
human needs while preserving the environment so that these needs
can be met for future generation.
5. Section 6. In the concluding remarks, environment is a whole and
should be approached holistically.
****
1. Nhập đề.Môi trường là gì?
Nó bao gồm các yếu tố tự nhiên (như đất, nước, không khí..) và yếu tố vật chất nhân tạo (như
nhà máy, đập nưóc, cơ xưởng..) ở xung quanh sinh vật, có tác động trực tiếp, gián tiếp hoặc tác động qua lại tới sự tồn tại, sinh trưởng, phát triển của sinh vật. Những vấn đề cấp bách về môi trường cần.
Tình tự với thiên nhiên và cuộc sống phải đối phó hàng ngày như ô nhiễm nước, ô nhiễm tiếng động, ô nhiễm không khí, trong một khung cảnh đất hẹp, người đông đã tạo nên sức ép trên tài nguyên thiên nhiên. Khung cảnh sống thay đổi. Những danh từ mới về khoa học môi trường đua nhau xuất hiện như sinh khối (biomass), kiểu sinh học (biotype), sinh cảnh (biotope), quần xã sinh vật (biome), hệ sinh thái (ecosystem), ổ sinh thái ( ecological niche), dấu chân sinh thái (ecological footprint), đa dạng sinh học (biodiversity), bền vững (sustainability), lổ hổng ozon (ozone hole ), sự sưởi ấm toàn cầu (global warming), tái chế biến (recycling) v.v.
Các vấn nạn môi trường có tính cách chung cho toàn thế giới: các nưóc giàu có thì tiếng động, mưa acit, khí nhà kiếng; các nước nghèo, chậm phát triển thì phá rừng, nhân mãn; tóm lại với hành tinh càng ngày càng nhỏ bé và không còn hành tinh nào khác ngoài. Trái Đất có điều kiện sinh sống nữa, con người nhận ra bảo vệ môi trường là việc chung của nhân loại. Vào năm 1992, tại Rio, nhiều xứ họp lại để ký bản thoả ước về bảo vệ tài nguyên trên trái đất, sau
đó tại Kyoto lại họp bàn về giới hạn các sự phát thải các khí độc trên bầu trời. Các tổ chức bảo vệ môi trường ra đời, đặc biệt nhất là tổ chức phi chính phủ Green Peace. Rồi ngày Earth Day xuất hiện, trong đó nhiều công dân đứng ra tổ chức vận động các chính phủ khuyến cáo các nhà lãnh đạo về năng lượng sạch (mặt trời, gió ..), tiết kiệm năng lượng, phát triển bền vững.
2. Môi trường như một hệ thống mở.
Khác với các hệ kín trong cơ học và vật lí, hệ thống môi trường nói riêng và các hệ thống nhân văn nói chung đều là những hệ thống mở (open system) nghiã là có các tương tác với bên ngoài, qua những trao đổi các dòng chảy (flux) vật chất, năng lượng và thông tin. Hệ thống có đầu vào (input), đầu ra (output) và các vòng phản hồi (feedback). Đầu vào là các yếu tố tác động của môi trường (đất, nước, sưởi ấm toàn cầu..) trên hệ thống, còn đầu ra là do tác động của hệ thống trên môi trường (khí thải, rác thải, bụi ..). Môi trường gồm những hệ thống nhỏ cấu tạo nên (thuỷ văn, khí hậu, thổ nhưỡng, thực vật..) và lại là thành phần cấu tạo của những
hệ thống lớn hơn trong đó ta phải kể đến xã hội, kinh tế, chính trị, giáo dục v.v và trong mỗi hệ thống này lại có những hệ thống phụ đan xen và tác động lên nhau. Vì có những tương tác như vậy tạo nên.
Tình tự với thiên nhiên và cuộc sống cái toàn thể không giống tính chất của từng yếu tố hợp thành và cũng không phải là con số cọng của các yếu tố đó. (The whole is more than the sum of its parts). Sau đây ta thử điểm qua vài hệ thống có tác động trên môi
trường.
2.1. môi trường và dân số .
Dân số Việt Nam tăng nhanh : năm 1954, toàn nước Việt chỉ có 25 triệu ngày nay, năm 2000, là 80 triệu. Theo thống kê, vào thời điểm 1999, dân số mỗi năm tăng 1.65%. Dù đã giảm nhiều từ 3% vào đầu thập niên 90, nhưng với nhịp tăng gia như vậy có nghĩa là cứ mỗi 42 năm, dân số sẽ tăng xấp đôi.
Vì diện tích đất đai không thay đổi nên mật độ dân số tăng lên rất nhanh. Năm 1921, chỉ 47 người/km2 thì nay đã 235 mgười/km2, đứng thứ 15 trên thế giới về mật độ dân số. Đến nay, tuy tỷ lệ sinh đã giảm từ 3,8 con xuống còn 2,3 con nhưng trong 10 năm tới, dân số Việt Nam vẫn tăng thêm trung bình 1 triệu người mỗi năm (Nguồn : Ủy Ban Dân số ) .
Riêng về đồng bằng sông Hồng với 11 tỉnh và diện tích tự nhiên là 1.478.256 ha, chiếm 4,46% diện tích đất cả nước nhưng dân số lại chiếm khoảng 22% dân số cả nước thì mật độ dân số lại càng rất cao với 1.124 người /km2.
Dân số cao với tài nguyên đất đai bị hạn chế đưa đến sử dụng nhiều phân bón, hoá chất bảo vệ thực vật, gia tăng phá rừng ngập mặn, gia tăng dùng nước sinh hoạt vào mùa khô khiến nước mặn đi sâu vào đất liền vào mùa khô tại khắp các vùng duyên hải từ Bắc chí Nam. Như vậy, dân số tăng cao có nhiều hiệu ứng ngoại biên. Nhà thơ Tú Xương trước đây cũng từng viết:
Phố phường chật hẹp người đông đúc
Bồng bế nhau lên nó ở non
-Dân số đông đòi hỏi năng lượng để nấu ăn, để đun nước, để tắm
giặt.
-Dân số đông đòi hỏi có nguyên liệu để làm nhà cửa, làm bàn ghế.
-Dân số đông đòi hỏi nhiều nhà máy để sản xuất ra điện, ra vật liệu
tiêu dùng.
-Dân số đông đòi hỏi xe cộ di chuyển đi làm
-Dân số đông đòi hỏi lương thực mà muốn có lương thực trên đất
càng ngày càng ít dần thì phải dùng phân bón và muốn có phân bón
Tình tự với thiên nhiên và cuộc sống lại phải có năng lượng và nguyên liệu từ sản phẩm dầu hoả và hơi đốt. Như vậy, có mối tương quan mật thiết giữa dân số và môi trường. Dân số cao qúa sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường. Do đó, bảo vệ môi trường là phải kiểm soát sinh đẻ, sinh đẻ có kế hoạch, cần có chất lượng thay vì số lượng.. Nhưng dân số cũng lại liên hệ đến dân trí (trình độ hiểu biết, công dân) và dân sinh (nế sinh hoạt, tăng gia chất lượng cuộc sống). Như vậy bài toán có tính cách đa chiều và giữa dân số, dân trí và dân sinh lại có thêm các quan hệ hữu cơ và tương thuộc lẫn nhau: dân trí cao, nếp sống cao sẽ làm dân số giảm xuống. Nhưng muốn nếp sống cao, thì phải có chương trình thực tế giúp người dân có thể giải quyết các nhu cầu cơ sở như nước uống, thực phẩm, chất đốt.. Giáo dục phụ nữ, nâng cao trình độ giáo dục của phụ nữ rất quan trọng cũng cần thiết để giảm dân số.
2.2. môi trường và sức khoẻ .
Nếu môi trường với đất, nước, không khí bị ô nhiễm thì dĩ nhiên sức khoẻ con người cũng bị ảnh hưởng theo . Không khí ô nhiễm thì ta bị dị ứng. Nước ô nhiễm thì ta bị đau bụng.
- Ô nhiễm không khí do ùn tắc giao thông của hàng vạn xe lưu thông trên đường phố. Dân đông nên xa lộ trước kia nay như đường phố, do khói bụi các nhà máy công nghiệp sắt thép, than đá, ximăng v.v. Nhiều cơ xưởng xây trước kia ở ngoại ô thì nay do đô thị bành trướng lại nằm ngay trong thành phố tạo nên thêm ô nhiễm không khí. Các nhà máy không có thiết bị lọc bụi. Kèm theo bụi là khí SO2 gây tác động xấu đến sức khoẻ con người, gây các bệnh viêm kết mạc, co thắt phế quản, viêm mũi, viêm họng.
- Ô nhiễm nước do nước thải sinh hoạt con người tại các khu dân cưvà nước thải từ các cơ sở công nghiệp chưa dược xử lý thườngđược đổ thẳng vào kinh rạch, sông ngòi. Nhìn chung, có thể nói là các nguồn ô nhiễm bao gồm các nguồn điểm (point source) và diện (non-point source). Các nguồn điểm như hệ thống thoát nước, các kỹ nghệ như chế biến thực phẩm, dệt nhuộm, giấy, làng nghề với đúc đồng, tái chế biến kẽm v.v. còn các nguồn diện bao gồm các hoạt động nông nghiệp, các khu dân cư không tập trung, giao thông trên sông ngòi, các công trường xây dựng. Nước ngầm cũng bị ô nhiễm do sự rữa trôi phân hoá học, thuốc trừ sâu, nước thải sinh hoạt hoặc từ nước rò rỉ từ các bãi rác. Ô nhiễm nước trong.
Tình tự với thiên nhiên và cuộc sống, sông rạch làm nhiều loại cá chết.. Và như vậy số lượng nước có thểsử dụng cho sinh hoạt bị mất đi .
- Ô nhiễm đất. Vì diện tích đất nông nghiệp càng ngày càng giảm với dân số tăng gia nên nhiều nông dân không có việc làm ở nông thôn, đành phải di dân về các thành phố lớn, chui rúc trong các xóm nghèo, không đủ hạ tằng cơ sở vệ sinh, gây thêm ô nhiễm môi trường với cống rãnh bị ngập, bãi rác không chỗ chứa. Với sự đô thị hoá, rác thải càng ngày càng trở nên trầm trọng vì bãi rác còn gây ô nhiễm không khí và nguồn nước vì nước mưa ngấm vào bãi rác tạo thành nước rò rỉ chứa các yếu tố độc hại gây ô nhiễm môi trường nước ngầm và đất, chưa kể đó là nơi sinh đẻ ruồi muỗi, tăng thêm nguy cơ dịch bệnh thương hàn, dịch tả, lị v.v. Trong nông nghiệp, có thể kể sản phẩm thải bỏ các nhà máy thực phẩm đóng hộp, lò sát sanh, sản phẩm bài tiết của các trại chăn nuôi lớn.
Trong công nghiệp, ngoài những rác thải thông thường như bao nilông, cao su, thủy tinh, ve chai, đồ kim loại, còn phải kể các rác thải nguy hiểm (hazardous wastes) như các chất dễ cháy, phóng xạ, chất nổ, các rác thải y tế như giây truyền máu, kim chích v.v...
Phân hoá học càng ngày càng được sử dụng nhiều để đảm bảo an toàn lương thực. Nhưng muốn giảm thiểu tác động lên môi trường, phải sử dụng cân đối, đúng lượng, đúng kỳ, hạn chế các tổn thất do bay hơi, rửa trôi.
Thuốc bảo vệ thực vật cũng giúp tăng sản lượng nông nghiệp nhưng nếu sử dụng qúa liều lượng sẽ gây nên nhiều hậu qủa: cá, tôm, tép trong ruộng bị giảm hẳn, cua, ốc, ếch, nhái, rắn cũng càng ngày càng hiếm. Ô nhiễm các loại thuốc bảo vệ thực vật sinh ra ngộ độc rau cải .
Sau đây là vài hoá chất bảo vệ thực vật: Chủng loại hoá học. Ví dụ:
- Thuốc diệt trùng
- Các hydrocacbon có chất Chlore Aldrin, Chlordane
- Lân hữu cơ Malathion, Diazinon, parathion,
- Cacbamat Carbaryl, carbofuran,
- Pyrethrin Permethrin
- Thuốc diệt khuẩn
- Benzimidazol Benomyl, thiabenzazol
- Thiocacbamat Ferbam, maneb
- Triazol Triadimefon. Bitertanol (còn tiếp)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét